Bài 8. Trương lực cơ bắp
Trang 43–49 trong sách in.
Ý chính
- Ba trạng thái của cơ. Cơ có thể đang động; không động nhưng căng; hoặc không động mà giãn mềm. Căng ít hay nhiều gọi là trương lực.
- Cơ chỉ căng khi có tín hiệu thần kinh. Cơ chỉ căng lên khi nhận kích thích từ dây thần kinh; cắt dây thần kinh thì cơ giãn mềm.
- Giữ tư thế: vì sao ngủ gật thì đầu gục. Muốn đứng, cơ lưng, cổ, chân phải căng; ngủ thì các cơ ấy giãn, đầu gục. Ở thân, cơ duỗi phía sau căng hơn cơ gấp phía trước; ở chân, cơ duỗi phía trước căng hơn.
- Cơ đối tác là cái phanh. Mỗi thay đổi tư thế làm trương lực đổi theo. Cơ chủ tác vận động thì cơ đối tác tạo trở lực vừa đủ; không có nó, cử động đột ngột như xe không phanh; hãm quá mức thì cử động khó khăn.
- Năm cấp thần kinh điều chỉnh trương lực. Trương lực được điều chỉnh qua nhiều cấp: tủy sống, thân não (mạng lưới), trung tâm dưới vỏ, tiểu não, vỏ não; tín lệnh tới cơ qua nơ-ron gam-ma.
- Điều chỉnh tốt thì vận động nhịp nhàng. Trương lực điều chỉnh tốt thì vận động nhịp nhàng, thoải mái, hiệu lực cao; không tốt thì trắc trở. Không kiềm chế được cảm xúc, nhiều vận động viên thi đấu kém hơn lúc tập.
- Tư thế nói lên tâm tư. Mọi hoạt động thần kinh qua hệ gam-ma đều ảnh hưởng trương lực; tư thế liên quan chặt với tâm tư: đứng nghiêm khác đứng thoải mái, ngẩng đầu khác cúi đầu, người 'cứng đầu cứng cổ' thường cứng cơ cổ.
- Hai chiều: thần kinh và cơ kéo nhau. Thần kinh căng thì cơ căng, thần kinh dịu thì cơ giảm trương lực; và ngược lại.
- Cơ bắp 'nói thật' hơn lời. Lời nói có thể trái với trương lực cơ; khi đó cơ 'nói thật' hơn miệng. Em bé chưa biết nói căng người trước khi khóc, mẹ hiểu ngay: một 'đối thoại trương lực cơ'.
- Sợ hãi, căm giận: căng toàn thân. Khi sợ hãi, hoảng hốt, căm giận quá độ, gần như toàn bộ cơ căng, con người không làm chủ được mình; vận động tế nhị và giao tiếp thoải mái thì cơ căng rất ít.
- Nếp căng từ nhỏ thành cá tính. Tình huống căng thẳng lặp đi lặp lại khi lớn lên khiến một số cơ thường căng, dần thành nếp, tác động đến tâm tư — một biểu hiện của cá tính.
- Cơ mặt tạo nét mặt. Dưới da mặt là nhiều cơ mỏng; co hay căng tạo nét mặt, phản ánh cảm xúc, suy nghĩ. Tác giả nêu ví dụ tượng Phật không có nếp nhăn.