Bài 6. Cố gắng cơ bắp
Trang 35–39 trong sách in.
Ý chính
- Hai loại cố gắng cơ bắp. Vận động mạnh hay kéo dài gây biến động lớn trong nội tạng, nhất là tim mạch và hô hấp. Tác giả phân biệt cố gắng bất động và cố gắng cơ động.
- Cố gắng bất động: nín thở, huyết áp vọt lên. Cơ căng mà không chuyển động, như đứng đỡ vật nặng: hít sâu rồi nín thở, ngực bụng cứng lại, áp suất trong ngực tăng, huyết áp có thể lên 180/120. Cố gắng này không kéo dài được và có thể nguy hiểm cho máu lên não nếu mạch não không tốt.
- Cố gắng cơ động: tim phổi tăng tốc. Không nín thở; tim phổi phải đưa đủ máu và ô-xy cho cơ. Lưu lượng tim từ 4–5 lít/phút có thể lên 40 lít/phút; mỗi nhát bóp từ 40 ml lên 120 ml nếu tập thường xuyên. Chạy 400 m tim có thể lên 200 lần/phút; chạy 5000 m chỉ khoảng 130.
- Máu dồn về cơ đang làm việc. Mạch máu trong cơ đang vận động nở ra, mọi mao quản mở (lúc nghỉ 9/10 khép lại); mạch nơi khác thắt lại, trừ não và tim; máu nuôi tim tăng 5–6 lần; mạch dưới da nở để tỏa nhiệt; huyết áp tối đa có thể quá 200, tối thiểu ít đổi.
- Thở mạnh hơn khi vận động. Để có thêm ô-xy, biên độ và tần số thở đều tăng; nhiều phế nang khép lúc nghỉ nay mở ra; không khí ra vào từ 4–5 lít/phút lên 50, có khi 100 lít/phút.
- Thiếu ô-xy thì phải ngưng, rồi trả nợ ô-xy. Thiếu ô-xy, gli-cô-gen bị phân hủy dở dang sinh a-xít lactic làm cơ không làm việc tiếp được. Ngưng vận động rồi vẫn phải thở nhiều để trả hết 'nợ ô-xy', tim phổi mới trở lại bình thường.
- Thượng thận tăng tiết khi vận động. Khi vận động, tuyến thượng thận tiết thêm a-đrê-na-lin và hóc-môn vỏ thượng thận để điều chỉnh việc phân hủy đường, cung cấp năng lượng.
- Quy tắc một phần ba – hai phần ba khối cơ. Dùng dưới 1/3 khối cơ toàn thân thì không mệt nhiều; dùng tới 2/3 thì chóng mệt; dùng toàn bộ thì chỉ được rất ngắn. Cơ chiếm khoảng 40% trọng lượng: người 50 kg có khoảng 20 kg cơ.
- Nhịp tim hồi phục nhanh hay chậm nói lên sức khỏe. Vì tim và phổi liên quan chặt, có thể ước lượng sức khỏe qua việc nhịp tim hồi phục nhanh hay chậm sau một cố gắng cơ bắp.
- Phép thử Ruffier (trình bày như trong sách). Sách mô tả: nằm yên 5 phút, đếm mạch 15 giây (P1); ngồi xuống đứng lên 30 lần trong 45 giây; đếm 15 giây đầu sau vận động (P2); nghỉ rồi đếm 15 giây cuối của phút nghỉ (P3). Chỉ số = [4 × (P1 + P2 + P3) − 200] / 10, kèm thang xếp loại của sách.
- Khả năng tiêu thụ ô-xy tối đa. Năng lượng vận động chủ yếu từ ô-xy hóa, nên khả năng tiêu thụ ô-xy tối đa khi cố gắng cao độ là chỉ số chủ yếu đánh giá sức khỏe: lúc nghỉ 0,250 lít/phút, ở lực sĩ có thể quá 5 lít. Biểu đồ: nghỉ, bắt đầu, công suất tối đa, ngừng, trả nợ ô-xy, trở lại bình thường.
- Chạy càng dài, phần năng lượng từ ô-xy càng lớn. Đầu cuộc vận động phổi chưa kịp, cơ dùng năng lượng thiếu ô-xy nên mắc nợ; tăng tốc về đích cũng mắc nợ. Chạy 100, 200 m gần như toàn bộ là năng lượng không dùng ô-xy; đường càng dài phần ô-xy hóa càng tăng. Cơ thể có hai nguồn năng lượng: không dùng và có dùng ô-xy.
- Khi vận động: khoảng 20% thành sức, gần 80% thành nhiệt. Khi vận động, cơ thể dùng chủ yếu glu-xít và li-pít; gần 80% năng lượng thành nhiệt, khoảng 20% thành cơ năng.
- Các thông số môi trường bên trong cần giữ ổn định (theo sách, 1979). Tác giả liệt kê: nhiệt độ 36–37°C; nhịp thở 14–16 lần/phút; nhịp tim 60–70 lần/phút; pH 7,3; đường huyết 0,8–1 g/lít; canxi 90–110 mg/lít.