Bài 5. Thần kinh và cơ bắp
Trang 30–34 trong sách in.
Ý chính
- Một bộ phận động thì bộ phận bên cạnh phải giữ thế. Mỗi vận động do một số cơ chuyển động một hay nhiều bộ phận; bộ phận bên cạnh phải giữ vững thế hoặc chuyển động theo, như đá một chân thì chân kia phải bám chặt đất.
- Cơ chủ tác và cơ đối tác. Mỗi cơ làm một động tác luôn đi đôi với một cơ làm động tác ngược lại: cơ ba đầu duỗi cánh tay (chủ tác), cơ hai đầu gấp cánh tay (đối tác).
- Mỗi vận động cần ba nhóm cơ. Một vận động đòi hỏi: cơ co rút để vận chuyển bộ phận, cơ đối tác hoạt động, và cơ phối hợp hoạt động.
- Trương lực: cơ căng hay giãn mềm. Tùy vai trò, cơ co thắt, căng để giữ thế, hoặc giãn mềm. Tình trạng căng hay giãn gọi là trương lực, luôn được điều chỉnh theo nhu cầu.
- Cúi nhặt vật nặng: cơ thể tự điều chỉnh từng chút. Khi cúi nhặt một vật: cơ gấp thân co lại, cơ lưng giảm trương lực, một số cơ căng lên để không ngã; cảm giác căng chùng ở cơ, khớp truyền về trung tâm; trung tâm truyền lệnh điều chỉnh khi vật được nhấc lên dần.
- Tín hiệu qua lại liên tục làm vận động chính xác. Vận động chính xác, đúng mục tiêu vì giữa cơ, khớp và trung tâm thần kinh luôn có tín hiệu qua lại; dẫn truyền tốt thì vận động nhanh nhẹn, chính xác.
- Ba sợi thần kinh của mỗi cơ. Mỗi cơ nhận ba loại sợi: sợi đưa tín hiệu từ cơ về tủy sống rồi lên trung tâm; sợi từ vỏ não qua nơ-ron an-pha (α) truyền lệnh vận động; sợi nối cơ với nơ-ron gam-ma (γ) ở tủy sống, nơ-ron này nối với tiểu não và các trung tâm dưới vỏ não.
- Đường gam-ma: mọi kích động đều chạm tới trương lực. Qua đường gam-ma, trung tâm thần kinh điều chỉnh trương lực cơ; mọi kích động trong và ngoài cơ thể đều có thể tác động đến trương lực. Dây thần kinh bị cắt hay tê liệt thì cơ hết hoạt động.
- Sơ đồ hệ thống điều chỉnh của cơ thể. Tác giả tổng hợp mọi mối quan hệ đã học trong một sơ đồ: giác quan, vỏ não, tiểu não, các trung tâm dưới vỏ não, tuyến yên, tuyến nội tiết, tủy sống, thần kinh thực vật, nội tạng, mạch máu, cơ bắp.